Thế nhưng, sau 20 năm gắn bó với nghề báo, bỗng dưng anh chuyển sang công việc nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến dược liệu và nhanh chóng trở thành người có uy tín, hiểu biết rất sâu sắc với ngành dược liệu, đặc biệt là cây sâm Lai Châu.
Phóng viên chuyên trang Giáo dục Cuộc sống có buổi phỏng vấn anh về việc bảo tồn, phát triển ngành dược liệu nước nhà.
Đang là một cây viết phóng sự nổi đình nổi đám, in đến chục tập phóng sự, sao anh lại rẽ ngang sang mảng dược liệu – công việc chẳng thấy liên quan gì đến chữ nghĩa vậy?
Tôi là một trong số ít nhà báo ham mê khám phá núi rừng. Gần như núi rừng nào cũng mò đến tìm hiểu, mày mò, khám phá. Mỗi chuyến đi rừng, tôi thường rủ các thầy thuốc, hoặc những người am hiểu về thảo dược quý đi. Vào rừng, ngoài ngắm cảnh đẹp, cây to, thác lớn, thú dữ, thì thứ thú vị, cuốn hút nhất phải là những loài thảo dược. Mỗi vùng đất, mỗi dải núi, mỗi bình độ, lại có những loài thảo dược riêng, rất đặc hữu và giá trị. Tuy nhiên, thảo dược tự nhiên quý hiếm có giá trị cao gần như ít được sử dụng, chủ yếu người dân nhổ bán sang Trung Quốc, mà không biết là thứ gì. Người Trung Quốc xưa vẫn có câu “Người Việt chết trên đống thuốc”, nghe rất cay đắng, nhưng qua nhiều năm làm báo, đi rừng nhiều, tiếp xúc với nhiều thầy lang, những người buôn bán bào chế thảo dược, tôi nhận thấy, có lẽ ngày càng đúng.
Cũng chính từ những chuyến đi, với các thầy lang, tìm hiểu về thế giới thảo dược đầy huyền bí, cực kỳ giá trị với sức khỏe, tiềm năng với kinh tế, mà tôi bị cuốn hút, rồi không rút chân ra được. Nhiều năm trời, thứ tôi thích viết nhất là phóng sự về các loài thảo dược quý, bí ẩn. Hiểu rõ về nó rồi thì nảy sinh ý định biến nó thành sản phẩm, thành tiền bạc rồi trồng trọt bảo tồn chúng, huy động người dân trồng chúng. Cứ mải mê với việc đó, thế là từ ông phóng viên biến thành ông “chuyên gia thực địa” dược liệu.
Trong quá trình tìm hiểu về dược liệu, anh Phạm Ngọc Dương ấn tượng nhất với những loại dược liệu nào?
Có thể nói tôi ấn tượng với cả chục loại cây thuốc quý, dược liệu quý. Nhưng loại cỏ đầu tiên mà tôi quan tâm đến là cây lan kim tuyến, chứ không phải sâm như nhiều người gọi tôi theo cái biệt danh Dương Sâm.
Thời điểm 2005, tôi có nhiều ngày ăn ngủ leo núi, xuyên rừng với ông Trần Ngọc Lâm, được gọi là “người rừng”, vì ông sống ở trong một hang đá, trên độ cao 2.800m. Ông Lâm ở trên đó, thu hái thảo dược, trồng thảo dược quý để tự chữa bệnh cho mình. Những ngày đó, tôi gặp rất nhiều người Mông đi rừng nhổ một loại cỏ nhỏ xíu, lá phát màu óng ánh. Khi đó, vàng chỉ có giá độ 1 triệu/chỉ, nhưng một kg cỏ này có lúc cao điểm lên tới 5 triệu đồng/kg tươi, dính cả rễ, đất. Có lúc giá xuống thấp, thì cũng vẫn bằng một chỉ vàng. Giá trị khủng khiếp như thế, nên người Mông bỏ hết ruộng vườn, vào rừng săn lùng thứ cỏ ấy. Họ gọi là cỏ nhung, vì cái lá của nó mềm mượt như nhung. Một số nơi gọi là lan kim tuyến, vì nó thuộc họ lan, gân mặt trên lá phát ra màu óng ánh khi soi đèn vào ban đêm. Chính vì thế, dùng đèn pin luồn rừng ban đêm dễ tìm hơn. Cũng có nơi gọi là cỏ kim cương, vì nó phát sáng và quý như kim cương. Sau này mới biết, có những thời điểm, người Trung Quốc thu mua nhiều để làm giống, thì giá vọt lên cao chất ngất, có lúc họ đủ giống rồi, thì giá lại xuống thấp, bởi họ chỉ thu mua giá chuẩn làm nguyên liệu. Tuy nhiên, với giá trị tiền thời đó, thì khó có thứ thảo dược gì đắt bằng.

Đem cây cỏ nhung đó về Hà Nội, tôi đi hỏi các chuyên gia, các nhà thực vật, song tuyệt nhiên không ai biết nó là thứ gì. Các thầy thuốc ở miền núi cũng đều chẳng biết công dụng của nó. Tôi viết vài bài báo nói về thứ cỏ ấy, thì một thời gian sau, cả nước rộ lên phong trào vào rừng nhổ cỏ nhung. Trong Tây Nguyên, có những thời điểm học sinh bỏ học, trường lớp vắng tanh, để vào rừng nhổ cỏ nhung. Khi người dân ở những vùng có núi cao trên 1.200m, bỏ hết vào rừng săn lùng cỏ nhung, thì báo chí đưa tin nhiều, song tuyệt nhiên vẫn không nhà khoa học nào biết nó là thứ gì. Tất nhiên, trong các sách thuốc cũng không có mặt nó. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu còn bảo giá trị của cỏ nhung ngang lá lốt. Và, đặt nghi vấn người Trung Quốc thu mua kiểu lừa đảo. Thực ra, cho đến bây giờ, các nhà nghiên cứu Việt Nam vẫn chẳng biết giá trị của nó là gì, khi nó đã rất đắt. Còn người dân thì ngâm rượu uống, hoặc mua về dùng với lời đồn giải độc, chữa ung thư, đặc biệt những người ung thư phổi săn lùng sử dụng rất nhiều, chẳng biết do nguồn tin nào xui khiến.
Tôi là nhà báo thích đi đến tận cùng của câu chuyện. Khi đã đặt câu hỏi, tôi phải tìm cách trả lời bằng được. Chính vì thế, để giải mã cây lan kim tuyến, tôi đã sang tận Trung Quốc để tìm hiểu về nó.
Tôi nhờ Tiến sĩ Nguyễn Thế Lương, giảng viên Khoa Dược thuộc Đại học Nam Kinh, Trung Quốc tìm tư liệu rồi dẫn đến Tập đoàn dược Đông Nam, chuyên sản xuất thuốc đông y, thuộc TP. Phúc Kiến tìm hiểu về lan kim tuyến cho ra đầu ra đũa. Tập đoàn này là một trong số ít công ty trồng lam kim tuyến quy mô lớn. Trao đổi với ông Hoàng Quyền Thành (Phó TGĐ Tập đoàn dược Đông Nam), thì mới biết tổ tiên ông ta dùng nhiều đời để chữa viêm gan, vàng da. Nó đặc biệt hiệu quả khi điều trị cho trẻ nhỏ. Sách dược chép rằng, người Trung Quốc đã dùng loại thảo dược này trên 1 vạn năm rồi. Ông cũng cảnh báo dùng có giới hạn, vì nó có độc tố hại cho thận.
Điều đáng nói, là ông Hoàng Quyền Thành cho biết, giá trị của lan kim tuyến lúc lên lúc xuống, nhưng trung bình khoảng 30 triệu đồng/kg khô (thời điểm 2006). Tập đoàn của ông, cũng như nhiều tập đoàn khác, đã trồng được nhiều, xây dựng những trang trại khổng lồ để trồng loại cỏ này. Tuy vậy nhu cầu vẫn không đủ. Và ông ngỏ ý, nếu Việt Nam sản xuất được, tập đoàn của ông có thể nhập khẩu số lượng không giới hạn.
Sau chuyến đi, tôi đã viết nhiều bài về lan kim tuyến và cung cấp thông tin cho các tập đoàn dược, các chuyên gia nghiên cứu và người nông dân hiểu biết thêm về nó. Hiện tại lan kim tuyến được trồng nhiều và được sử dụng khá rộng rãi. Nhiều nông dân giàu lên nhờ nó. Tuy nhiên, đáng tiếc là chưa có đề tài nào nghiên cứu về loại được liệu này cả và việc sử dụng vẫn lung tung.
Trong giới dược liệu, có người nói anh là người “đặt tên” cho nhiều loại dược liệu ở Việt Nam phải không nhỉ?
Nói thế thì hơi quá, vì tôi không phải nhà khoa học. Đặt tên cho các loại dược liệu thì phải là nhà khoa học, đặt tên theo khoa học. Có nhiều loại dược liệu tôi không biết tên khi viết về nó, hoặc nó có tên xấu xí, nên khi viết báo tôi đặt lại tên. Cứ thế lâu dần, người buôn dược liệu gọi theo tên tôi đặt, thế là nó thành cái tên mới.

Tôi có thể ví dụ như tên sâm tiết trúc, chỉ các loại sâm và tam thất. Lúc đó người dân gọi rất lung tung, mà các cụ mỗi nơi gọi một kiểu, nên tôi gọi là tiết trúc, vì mỗi năm nó ra một đoạn, có cái mắt nên tôi gọi vậy.
Một cái tên khá vui là củ Sâm đất cũng là tôi đặt. Ngoài ra, tôi còn gọi nó là củ địa tàng thiên, khoai sâm. Mỗi lúc tôi gọi một tên trong các bài viết, thành ra giờ nó có rất nhiều tên.
Nấm phục linh thiên cũng là loại nấm từng rất nổi tiếng, nhưng bị tuyệt diệt rồi. Nó là một loại nấm quý, mọc ở trên thân cây vân sam, loài đặc hữu chỉ có vài trăm cây ở quanh đỉnh Fansipan và vùng Tây Tạng. Tên tôi đặt có ý nghĩa là loại nấm rất quý ở trên trời. Đáng tiếc là sau này dân buôn dược liệu họ hái nấm trên cây sa mộc dầu giả phục linh thiên bán lừa người tiêu dùng.
Còn nhiều loại tôi đặt tên lắm, nhưng buồn cười và nổi tiếng nhất là nấm ngọc cẩu.
Xưa tôi viết về nó, từ câu chuyện của người Dao. Người Dao gọi là nấm cu chó, nhưng viết lên báo tên đó không hay, nên tôi đặt tên cho nó là Ngọc Cẩu. Sau này tôi mới biết nấm tên là tỏa dương. Có điều chả ai biết, ít người dùng, nên cái tên tỏa dương chẳng ai để tâm. Giờ thì không chỉ sách báo, dân buôn dược liệu, mà cả các chuyên gia cũng gọi là nấm Ngọc cẩu.
Vừa thấy anh nhắc đến cái tên Khoai Sâm, tôi cũng biết củ này. Mỗi khi đi miền núi, tôi đều mua ăn, rất ngon, bổ, mát. Giờ thấy bán ở Hà Nội. Chẳng nhẽ nhà báo Phạm Ngọc Dương cũng là người nghiên cứu về nó đầu tiên?
Vâng. Chính bản thân tôi là người “khai quật” củ khoai sâm ra khỏi rừng già, đưa lên mặt báo Điện tử VTC News, từ cái tên Địa tàng thiên.
Hồi đi rừng với ông Trần Ngọc Lâm, khoảng 2005 hay 2006 gì đó, cứ mệt lại đào củ này ăn. ngọt mát cuống họng, hồi phục sức khỏe rất nhanh. Sau lên xã Y Tý (Bát Xát, Lào Cai) thấy đồng bào Hà Nhì trồng lác đác trong vườn, trên nương, rừng. Họ gọi là Hoàng sìn cô (hoặc Hoàng Shin cô). Nhìn nó như củ khoai, nên có lúc gọi là “sâm khoai”, vì nó rẻ như khoai, bổ như sâm. Lúc đó duy nhất Y Tý có trồng củ này, vì ông Lâm đem giống cho bà con Hà Nhì và các cán bộ biên phòng trồng lấy củ ăn cho vui.
Ông Trần Ngọc Lâm mang ý tưởng sản xuất loại trà giải độc, tăng sức khỏe nên ông quan tâm đến loại củ này. Các thiền sư Tây Tạng sử dụng loại trà có củ này hàng ngày giải độc hiệu quả. Củ Hoàng sìn cô này được sấy khô đến mức cứng queo, rồi nghiền thành bột trộn với các loại thảo dược quý khác. Nó mang lại vị ngọt hậu, thanh nhẹ cho trà.
Vì thấy loại củ này rất thú vị, ăn rất ngon, bổ dưỡng, vị ngọt nhưng đặc biệt tốt cho người tiểu đường, nên tôi và “người rừng” Trần Ngọc Lâm đã động viên bà con ở Y Tý di thực từ rừng già về trồng rất nhiều ở nương rẫy. Bản thân tôi cũng viết một số bài báo nói về loại củ này và sức lan tỏa rất nhanh.

Trong một lần sang Trung Quốc cùng tiến sĩ Nguyễn Thế Lương, Giảng viên Đại học Nam Kinh, tôi đã mang củ Hoàng sìn cô này theo để tìm hiểu về nó. Hóa ra, Hoàng sìn cô vốn có trong tự nhiên, kéo dài từ Tây Tạng, xuống Vân Nam, và miền núi phía Bắc của Việt Nam. Trong siêu thị hoa quả của Trung Quốc bày bán loại củ này với giá trên dưới 10 tệ/kg tươi. Trong các cửa hàng dược liệu cũng bán khô để làm thuốc.
Người Trung Quốc gọi nó là Tuyết liên quả (tên khá giống Hoa sơn tuyết liên), với ý nghĩa là “quả sen trên tuyết”. Vùng Vân Nam núi cao, tuyết rơi rất lạnh, thích hợp với loại củ này. Sen có nghĩa là quý, thanh khiết, và lại mọc trên tuyết thì còn gì đẹp bằng.
Người Trung Quốc dùng nó làm thực phẩm nấu ăn, hầm với gia cầm, nấu xương, ăn rất bổ dưỡng. Họ đóng gói tươi bán trong siêu thị để ăn luôn, có mùi vị thanh mát, giòn ngọt. Các nghiên cứu của Trung Quốc khẳng định nó giàu các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể: amino axit, vitamin, protein, canxi, kẽm, magiê…
Điều đặc biệt Tuyết liên quả có hàm lượng đường Fructooligosaccharide cao nhất nhưng lượng calo lại thấp. Giàu chất xơ hòa tan nhưng cơ thể lại không hấp thu chất carbohydrate, vì thế loại quả này rất thích hợp với người bệnh tiểu đường và người béo phì.
Ngoài ra, Tuyết liên quả còn có tác dụng điều hòa dạ dày, thúc đẩy tiêu hóa, nhuận tràng, bảo vệ và cải thiện chức năng tiêu hóa. Nó điều hòa khí huyết, giảm lượng đường trong máu, lipid, huyết áp, ức chế sự phát triển của cholesterol và bệnh tiểu đường.
Tác dụng của nó quý vậy, nhưng giá của nó lại rẻ như khoai. Tôi tham quan một số trang trại trồng loại củ này và được biết một héc-ta cho thu hoạch tới vài chục tấn củ, năng suất cực kỳ cao.

Mặc dù loại củ này rất tốt, bổ dưỡng, vừa là thực phẩm, vừa là thuốc, trồng cực dễ, thu hoạch sản lượng cao, nhưng gần như chẳng có cơ quan nào quan tâm, chẳng có nhà khoa học nào nghiên cứu. Từ việc di thực của ông Trần Ngọc Lâm, nhân dân trồng tự phát, những người bán lẻ đưa ra thị trường lặt vặt, một vài bài báo giới thiệu, thì người dân bước đầu biết đến loại củ này. Thế nhưng, vì trồng tự phát, không có quy hoạch, nên chỉ thu tươi ồ ạt vào đợt cuối năm, rồi lại biến mất khỏi thị trường.
Bản thân tôi và ông Trần Ngọc Lâm suốt nhiều năm nỗ lực giới thiệu, để các doanh nghiệp tiếp cận, lập được vùng trồng, chế biến được thứ củ này thành đồ ăn, nước uống, phục vụ nhân dân. Nhưng hầu như nhiều doanh nghiệp chỉ muốn nhập nguyên liệu từ nước ngoài, trong đó hầu hết là Trung Quốc về đóng gói rồi bán cho nhanh, đỡ chịu rủi ro.
Ở Trung Quốc nó được chế biến thành rất nhiều sản phẩm giá trị, nước uống rất bổ dưỡng ngon lành. Tiếc là Việt Nam vẫn chưa chế biến được, chưa có nhà nghiên cứu quan tâm biến nó thành hàng hóa có giá trị. Chủ yếu người dân vẫn trồng tự phát, nhổ bán tươi ăn vào dịp cuối năm.
Nghe anh kể về dược liệu, quá trình tuyên truyền, phân tích và phát triển nó rất thú vị và tiềm năng. Vậy theo nhà báo Phạm Ngọc Dương, loại dược liệu nào có thể biến thành hàng hóa có giá trị cao nhất, thành thương hiệu quốc gia, tiến tới xuất khẩu mang ngoại tệ về? Hỏi xong, thì tôi cũng xin đoán luôn đó là sâm đúng không anh? Vì thương hiệu Dương Sâm đã khá có tiếng rồi?
Đúng là như bạn nói. Bây giờ, nhắc đến dược liệu quý, có cơ hội phát triển thành hàng hóa có giá trị, thì rõ ràng là sâm rồi. Đây chính là loại dược liệu khiến tôi bỏ cả nghề viết để theo đuổi nó đấy.
Thời điểm độ 2005-2006, lúc công tác ở Báo An ninh thế giới, khi khám phá đại ngàn Hoàng Liên Sơn, tôi gặp nhiều đồng bào Mông đi rừng tìm kiếm “khoai lang núi”. Mỗi người một cái gùi trên lưng. Họ thường đi tìm kiếm vào thời điểm đầu năm và cuối năm. Đầu năm, một loại “khoai lang núi” mọc lên, ra hoa vào mùa hè, rồi lụi. Mùa thu lại có một loại mọc lên, ra hoa vào mùa đông, rồi lụi khi đầu xuân. Những củ “khoai lang núi” nhìn loằng ngoằng như con rết, không có gì đẹp đẽ. Đi vài ngày trong rừng, họ lấy được đầy gùi, cõng ật ưỡng xuống núi. Một anh người Mông bảo: “Có thằng Tàu sang, mang cái củ này bảo bên Tàu đói quá, nhờ vào rừng tìm cho củ khoai loại như con rết này để về ăn, thế là tao đi nhổ thôi. Cả bản đi nhổ, ngày có khi được cả tấn”.
“Người rừng” Trần Ngọc Lâm cười bảo: “Toàn là sâm quý đấy. Người Tàu sợ gọi là sâm thì dân đòi giá cao, nên cứ gọi là khoai núi, thì mua được giá rẻ”. Khi đó, loại “khoai lang núi” này có giá chỉ 200 ngàn đồng/kg. Sau tiếp xúc với một số đầu mối buôn dược liệu, mới biết đó là sâm tiết trúc, sâm đốt trúc, dân gian gọi là tam thất hoang. Người Trung Quốc bảo rằng, có nhiều loại sâm tiết trúc, nhưng giá trị không chênh nhau nhiều. Từ loại tiết trúc mọc ở dãy Hoàng Liên Sơn, đến Lào, tận núi Ngọc Linh, giá trị không khác nhau mấy và người Trung Quốc thu mua theo giá chung. Có những thời điểm giá lên cao, cũng là do Trung Quốc gom giống, có thời điểm xuống thấp, là nhu cầu nội địa họ đáp ứng được.
Càng đi rừng nhiều, tìm hiểu nhiều, tôi nhận thấy sâm tiết trúc là loại thảo dược cực kỳ giá trị. Tiếc rằng, chúng đã bị nhổ gần như sạch bách bán sang Trung Quốc. Và sang Trung Quốc, mới thấy những trang trại trồng sâm tiết trúc trải dài hết dãy núi này đến dải núi khác, mênh mông bát ngát bằng cả miền Bắc Việt Nam, cung cấp cho cả thế giới sử dụng.
Trong dòng sâm tiết trúc, hiện tại, đắt nhất là loại mọc ở núi Ngọc Linh, gọi là sâm Ngọc Linh, ở địa phận Quảng Nam và Kon Tum. Loại tự nhiên, quý ngang nhau là mọc ở bên Lào, cũng thuộc dải núi Ngọc Linh, bởi nó cùng địa hình, địa chất, khí hậu. Tuy nhiên, tôi đã thử nghiên cứu, kiểm định chất lượng, thì nhận thấy, một loại sâm tiết trúc ruột đen ở dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận Lai Châu có hàm lượng Saponin tổng hợp còn cao hơn ở núi Ngọc Linh. Chính vì thế, trên thị trường nhiều năm trước, loại sâm ở Lai Châu thường được đem vào Ngọc Linh để bán với thương hiệu sâm Ngọc Linh. Hiện tại, loại sâm này có giá trung bình khoảng 100 triệu/kg. Loại củ hoang dã, củ lớn, rất khó định giá, thậm chí đến cả tỷ đồng/củ độ 7-8 lạng.

Qua tìm hiểu tôi được biết các dòng sâm quý này người Trung Quốc thu mua giống từ Lai Châu, rồi nhân giống, gieo trồng. Chúng có đủ các đặc tính, hoạt chất của sâm Ngọc Linh, nên làm giả sâm Ngọc Linh hoàn hảo. Nói là làm giả sâm Ngọc Linh, nhưng nó chỉ không được trồng ở núi Ngọc Linh, chứ rõ ràng nó là sâm tiết trúc dòng Ngọc Linh. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu ở Viện Dược Liệu còn ngỡ ngàng, khi hàm lượng saponin chính MR2 của loại sâm Lai Châu trồng ở Trung Quốc lại cao bất thường. Nhiều khả năng, trình độ cách tác, chăm bón của họ là siêu đẳng.
Nói đến đây lại thêm đáng tiếc, là bởi đây là loại dược liệu rất quý. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gọi là “Quốc bảo Việt Nam”, nhưng chúng ta lại đang tự làm giảm giá trị của nó bởi gọi tên theo chỉ dẫn địa lý. Tôi có gặp gỡ dược sĩ Đào Kim Long, nghe ông kể thì hồi tìm ra sâm trên núi Ngọc Linh, ông đã hét lên sung sướng, bởi đã tìm thấy loài sâm có ở Lào Cai. Tức là, ý ông, đã tìm thấy cây sâm Lào Cai ở núi Ngọc Linh. Thế hệ những người già ở Ngọc Linh, vẫn gọi chúng là sâm đốt trúc, sâm tiết trúc. Tên khoa học của nó là Sâm Việt Nam. Cái tên Sâm Việt Nam vừa rộng, vừa thể hiện được thương hiệu quốc gia, lẽ ra phải nên dùng rộng rãi. Giống như cùng là nhân sâm, nhưng nó có tên sâm Triều Tiên, sâm Trung Quốc, mới thể hiện được giá trị. Việc gọi là sâm Ngọc Linh, là tự giới hạn thị trường cho loại sâm quý này.
Bản thân tôi cũng có nhiều lần vào các vùng trồng sâm ở Trà My (Quảng Nam) khảo sát cùng các doanh nghiệp, để tìm đất trồng sâm. Tuy nhiên, việc trồng sâm rất khó khăn. Người dân trong đó khá khép kín, không thích người lạ xâm nhập. Họ sợ mất mát, lộ vị trí vườn sâm. Cây sâm có giá trị rất cao, nhưng kỹ thuật canh tác thủ công rất kém, nên sản lượng rất thấp. Ngoài ra, người trồng sâm chịu đủ các loại rủi ro. Thiệt hại nhiều nhất là do chuột. Có những gia đình bị chuột ăn sạch vườn sâm. Thiệt hại lớn thứ hai, là bị trộm cắp. Sâm trồng giữa rừng, thời gian thu hoạch quá lâu, không thể trông nom quanh năm suốt tháng được, nên sểnh ra là mất. Đồng bào phải cấm rừng, cắm chông, giăng bẫy để bảo vệ vườn sâm, nên khách lạ chẳng khác gì kẻ thù. Cũng vì những lý do đó, mà việc đầu tư phát triển trồng sâm là cực kỳ khó khăn và rủi ro.
Tỉnh Lai Châu vô cùng rộng lớn, rừng núi trùng điệp, dãy Hoàng Liên Sơn dài mấy trăm cây số ngất ngưởng trời xanh. Nơi đó, mọi điều kiện đều phù hợp với cây sâm tiết trúc, loại rẻ nhất có giá 5-10 triệu/kg, loại đắt nhất có giá tới cả tỷ đồng/kg, giống sâm bản địa vẫn có trong rừng, thậm chí giống cực nhiều đang được ươm bên Trung Quốc, tại sao lại không có doanh nghiệp nào đầu tư trồng loại dược liệu đầu bảng quý này? Mọi cơ hội đều nhường hết cho Trung Quốc? Nếu trồng khắp Lai Châu và Ngọc Linh, với thương hiệu sâm Việt Nam, chẳng phải sẽ tăng được sản lượng rất nhiều, phục vụ được rộng rãi người dân, và xuất khẩu được thì rất tốt?
.jpg)
Nhìn ra được điều đó, nên gần 20 năm qua tôi đã đưa cả trăm anh em doanh nghiệp lên Lai Châu khảo sát để phát triển loại dược liệu quý này. Quan điểm của tôi phải trồng quy mô công nghiệp thì mới hy vọng có được số lượng lớn, đủ nguyên liệu chế biến được, chứ cứ chui rúc trong rừng trồng thì muôn đời không phát triển được, và không thể cạnh tranh với Trung Quốc được.
Tôi cũng đã và vẫn đang kết hợp với một số hộ dân người La Hủ mãi Mường Tè trồng sâm Lai Châu theo nhiều mô hình, vừa trong vườn vừa trong rừng và hiệu quả vẫn chưa cao. Tuy nhiên, quá trình trồng cùng dân từ năm 2019 đến này, thứ thu được là bài học và kinh nghiệm.
Bản thân tôi cũng đã thuyết phục và tham gia cùng Công ty Dược phẩm Thái Minh, một trong những công ty dược hàng đầu Việt Nam, xây dựng một trang trại trồng sâm quy mô lớn trong nhà màng ở Sìn Hồ, Lai Châu. Đây là phương pháp trồng sâm quy mô công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam và hiện rất thành công, do loại bỏ được các yếu tố bất lợi từ thiên nhiên.
Kết hợp với đó, nhiều năm qua tôi vẫn đang di thực cây sâm xuống thấp và bước đầu thành công. Từ độ cao 2.000m của Sín Chải (Pa Vệ Sử, Mường Tè, Lai Châu), tôi đã di thực thành công xuống độ cao có 970m của vùng Bắc Hà và 1.100m của Vân Hồ, Sơn La. Các vùng có độ cao 1.500m như Tà Xùa thì cây sâm lên rất tốt.
Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt của tôi là phải di thực được nó xuống thấp, vì ở vùng thấp hơn, mới có quỹ đất rộng lớn, điều kiện canh tác, đường sá thuận tiện, mới sản xuất quy mô lớn và hạ giá thành củ sâm xuống được.
Tôi vẫn miệt mài nghiên cứu, thử nghiệm, trồng trọt, và tôi tin rằng, không lâu nữa giá sâm sẽ không phải cả trăm triệu, vài chục triệu, mà chỉ còn trên dưới 1 triệu đồng mỗi kg, để người thu nhập thấp cũng có thể được dùng loại dược liệu quý này. Khi toàn dân sử dụng, khi nó được chế biến sâu thành nhiều loại sản phẩm, thì mới hình thành được nền công nghiệp sâm và hy vọng xuất khẩu thu ngoại tệ.
Xin cám ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này!

Bình luận
TVQuản trị viênQuản trị viên
Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm